Pages

Subscribe:

Tuesday, 21 March 2017

Doanh nghiệp siêu nhỏ và doanh nghiệp nữ làm chủ là động lực của kinh tế toàn cầu

Doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa (SMME) và doanh nghiệp (DN) do nữ làm chủ đang trở thành những động lực rất quan trọng của nền kinh tế toàn cầu.

Ông Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho biết tại buổi Họp báo về Hoạt động của doanh nghiệp trong năm APEC Việt Nam 2017 và kết quả kỳ họp ABAC 1 diễn ra mới đây.

Ông Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch VCCI phát biểu tại buổi họp báo.
Ông Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch VCCI phát biểu tại buổi họp báo.
Doanh nghiệp do nữ làm chủ thường bền vững hơn
Cụ thể, ông Lộc dẫn chứng ở Việt Nam hiện nay, 25% doanh nghiệp do nữ làm chủ. Ông cũng cho biết chúng ta đang hướng tới kế hoạch ít nhất là 1/3 doanh nghiệp do nữ giới làm chủ và rất nhiều dự báo trên thế giới nói rằng trong tương lai, con số này của Việt Nam có thể lên đến 50%.
"Xu hướng nữ doanh nhân làm chủ đang được ủng hộ và trong những năm qua, trong nước cũng như trên thế giới, nền kinh tế có những thay đổi khó lường và trong điều kiện đó, chúng ta đều thấy khu vực kinh doanh do phụ nữ làm chủ có khả năng bền vững hơn nên việc thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ vào kinh doanh là một điều quan trọng", ông Lộc nhấn mạnh.
Đồng tình với ông Lộc, ông Hoàng Văn Dũng, Chủ tịch Hội đồng Tư vấn Kinh doanh APEC (ABAC) cho biết: “Tôi rất hy vọng lần này tại diễn đàn doanh nhân nữ APEC, chúng ta có thể thành lập được mạng lưới doanh nhân nữ APEC. Có nhiều ý tưởng sáng tạo của APEC Việt Nam đã được thực hiện như mạng lưới doanh nhân nữ ASEAN đang hoạt động rất tốt chính là một điển hình.”
Bên cạnh đó, ông Lộc cho biết, Việt Nam đang là điểm đến của các nhà đầu tư trong cộng đồng APEC và Việt Nam là một trong những cộng đồng APEC được thế giới quan tâm nhất.
“Kết quả của chúng tôi trong vận động DN các nước tham gia cho thấy đang có sự ủng hộ rất mạnh mẽ APEC 2017 ở Việt Nam và có thể đây sẽ là năm được cộng đồng doanh nghiệp APEC quan tâm nhất trong những năm gần đây”, ông Lộc nói.
Doanh nghiệp siêu nhỏ lên ngôi
Doanh nghiệp lớn có vai trò của nó nhưng trong tất cả các nền kinh tế trên thế giới, kể cả ở Mỹ, Đức, Nhật Bản và các nền kinh tế APEC thì SMME mới là xương sống của nền kinh tế, ông Lộc nhận định.
Cụ thể, những hộ kinh doanh gia đình ở Việt Nam sẽ được chuyển thành SMME theo 2 hướng: một là vươn về nông nghiệp nông thôn, liên kết với các hộ nông dân; hai là vươn ra để tham gia vào các chuỗi cung ứng toàn cầu.
Tuy nhiên, ông Lộc phân tích rằng, vì nền kinh tế đang đứng trước những biến động khó lường, không chỉ có trào lưu thúc đẩy hội nhập mà còn có sự trỗi dậy của chủ nghĩa bảo hộ cực đoan nên có khả năng nền kinh tế thế giới sẽ được tái cấu trúc, các chuỗi giá trị thậm chí sẽ được xóa đi lập lại hoặc thu hẹp lại.
Ông Lộc nhận định, chuỗi giá trị được sắp xếp lại vừa là thách thức vừa là cơ hội. Bởi các chuỗi giá trị thường là cuộc chơi của các DN lớn, các SMME rất ít có cơ hội tham gia. Đây là một trong những lý do mà chủ nghĩa bảo hộ nổi lên trong thời gian qua là do các chuỗi giá trị toàn cầu không đảm bảo sự phát triển bao trùm, nó gây tổn hại cho các SMME, cho người lao động và cho khu vực nông nghiệp nông thôn.
Chính vì vậy, trào lưu chống bảo vệ mậu dịch nhằm phản ứng lại điều này. Các chuỗi giá trị toàn cầu phải cơ cấu lại theo hướng vừa mở cửa để tiếp nhận các SMME, vừa tham gia vào chuỗi giá trị để đảm bảo sự phát triển của mình.
Do đó, DN Việt chỉ có thể tham gia nếu đáp ứng được 2 nhu cầu: Cải cách thể chế, Chính sách kinh tế, Chính sách phát triển DN của nước ta, tạo môi trường thuận lợi, yểm trợ cho sự phát triển của các SMME nội địa; thứ 2 là bản thân các SMME cũng phải nâng cao năng lực của mình.
"Đây là thách thức cũng như cơ hội cho cả cơ quan chính quyền và DN trong việc đưa nền kinh tế nước ta tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Với xu hướng cả thế giới đang quan tâm đến Việt Nam, đặc biệt là xu thế cải cách thể chế được phát động từ năm ngoái, chúng ta hoàn toàn có thể bứt phá, tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu này", ông Lộc nhận định.
Đồng tình với quan điểm của ông Lộc, ông Dũng bổ sung rằng phải để các SMME tiếp cận vốn, đặc biệt là vốn để phát triển khoa học công nghệ, nếu không sẽ không áp dụng được khoa học công nghệ tiên tiến của thế giới.
Bên cạnh đó, cần thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực trong kỷ nguyên số, tiếp cận thị trường, đối tác nước ngoài, để phát triển SMME và DN khởi nghiệp ở Việt Nam, tăng cường sự tham gia của DN nữ làm chủ.

Ngân hàng ồ ạt tăng lãi suất: Kỳ vọng người gửi tiền thay đổi?

Áp lực lạm phát tăng ngay trong hai tháng đầu năm (tổng mức tăng là 0,7%) cũng là nhân tố buộc các ngân hàng phải xem xét điều chỉnh biểu lãi suất khi kỳ vọng của người gửi tiền thay đổi.

Bơm ròng 15.833 tỷ đồng vào thị trường
Thị trường tiền tệ ngân hàng vừa chứng kiến hiện tượng nhiều ngân hàng phát hành chứng chỉ tiền gửi, trong đó lãi suất huy động VND được đẩy lên mức cao trên 9%/năm. Trong khi đó, lãi suất liên ngân hàng tuần qua có xu hướng tăng nhẹ với biên độ từ 0,15% - 0,28% đối với tất cả các loại kỳ hạn. Cụ thể, lãi suất trung bình kỳ hạn qua đêm tăng 0,15%, lên mức 4,7%/năm; kỳ hạn 1 tuần tăng 0,18%, lên mức 4,75%/năm; kỳ hạn 2 tuần tăng 0,28% đạt mức 4,77%/năm.
Cũng tuần vừa qua, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã bơm mới 22.375 tỷ đồng qua kênh OMO, trong khi lượng vốn đáo hạn trong tuần đạt 10.542 tỷ đồng. Do vậy, 11.833 tỷ đồng đã được NHNN bơm ròng qua kênh này. Ngược lại, NHNN không phát hành tín phiếu đối với tất cả các loại kỳ hạn, mặc dù lượng vốn đáo hạn qua kênh này đạt 4.000 tỷ đồng.
Như vậy, NHNN đã bơm ròng 4.000 tỷ đồng qua kênh tín phiếu. Tổng hợp cả hai kênh OMO và tín phiếu, nhà điều hành đã bơm ròng tổng cộng 15.833 tỷ đồng vào thị trường.
"Lãi suất liên ngân hàng tiếp tục neo ở mức cao cùng động thái bơm ròng vốn của NHNN cho thấy thanh khoản hệ thống tuần qua không còn ở trạng thái dồi dào", Công ty Chứng khoán Bảo Việt (BVSC) nhận xét.
Sức ép lên mặt bằng lãi suất
Cũng theo BVSC, sức ép lên mặt bằng lãi suất đang gia tăng. Tăng trưởng tín dụng đang cho những diễn biến tương đối tích cực so với các năm gần đây. Dẫn số liệu từ NHNN, báo cáo cho biết, tăng trưởng tín dụng tính đến cuối tháng 2/2017 đạt xấp xỉ 2% so với cuối năm ngoái trong khi cùng kỳ năm 2016 và 2015, mức tăng này chỉ quanh 0,6%. Cơ cấu tín dụng theo kỳ hạn tiếp tục duy trì ổn định kể từ tháng 12/2014, trong đó tín dụng ngắn hạn chiếm 45% tổng tín dụng, còn lại tín dụng trung và dài hạn chiếm 55%.

Sức ép lên mặt bằng lãi suất đang gia tăng (ảnh minh họa).
Sức ép lên mặt bằng lãi suất đang gia tăng (ảnh minh họa).
Do diễn biến tăng trưởng tín dụng khả quan trong khi thanh khoản hệ thống ngân hàng không quá dư thừa, mặt bằng lãi suất huy động cũng đã có sự nhích nhẹ tại khá nhiều ngân hàng thương mại, chủ yếu vẫn tập trung ở nhóm ngân hàng ngân hàng thương mại có quy mô vừa và nhỏ.
Điển hình tại Maritimebank, ngân hàng này tăng lãi suất ở các kỳ hạn ngắn 1 và 2 tháng, từ mức 5,05% lên 5,2%/năm; Oceanbank tăng lãi suất kỳ hạn 6 tháng, 11 tháng, 12 tháng lên mức 7,3%/năm; OCB tăng lãi suất huy động lên cao nhất ở mức 7,8%...
Bên cạnh đó, theo BVSC, lãi suất tăng còn do các ngân hàng đang cân đối, sắp xếp lại cơ cấu nguồn vốn khi quy định trong Thông tư 06 về giảm tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn từ mức 60% xuống mức 50% chính thức có hiệu lực kể từ đầu năm 2017.
"Áp lực lạm phát tăng ngay trong hai tháng đầu năm (tổng mức tăng là 0,7%) cũng là nhân tố buộc các ngân hàng phải xem xét điều chỉnh biểu lãi suất khi kỳ vọng của người gửi tiền thay đổi", BVSC nhận định.
Nhân tố cuối cùng chính là áp lực bên ngoài đến từ lộ trình tăng lãi suất của Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED). Dự kiến sau quyết định tăng ngày 15/03 vừa qua, FED sẽ có thêm hai lần tăng lãi suất nữa trong năm nay và ba lần nữa trong năm 2018. BVSC nhận định rằng, nếu trần lãi suất tiền gửi ngoại tệ trong nước vẫn duy trì ở mức 0%, rất có thể dòng kiều hối và đầu tư gián tiếp sẽ có sự đảo chiều ở mức nhất định.
Hệ quả là tỷ giá sẽ lại biến động và nếu muốn ngăn điều này xảy ra, lãi suất tiền Đồng phải ở mức đủ hấp dẫn để người gửi tiền vẫn nắm giữ VND bất chấp kỳ vọng biến động tỷ giá.
Theo đó, BVSC cho rằng, sức ép tăng lãi suất trong năm nay sẽ lớn hơn so với năm 2016. Tuy vậy, sức ép này có thể sẽ không quá lớn nếu diễn biến tăng CPI trong các tháng tới hạ nhiệt và lộ trình tăng lãi suất của FED vẫn đúng theo dự kiến, không có sự thay đổi quá lớn so với kỳ vọng của nhà đầu tư.